Tổng quan
Ink Trapping được định nghĩa là Hiệu quả của lớp mực thứ hai truyền lên lớp mực được in trước đó trong quá trình in nhiều màu. Được tính bằng mật độ quang học. Một cách đơn giản, khi chúng ta in nhiều màu chồng lên nhau, các lớp mực in trước còn ướt, lớp mực sau cũng còn ướt sẽ bám lên nhau như thế nào?.
Trong thực tế, in màu nào trước, màu nào sau trong tiến trình in nhiều màu trên máy in offset tờ rời vẫn còn những tranh cãi. Bởi vì thứ tự màu in sẽ ảnh hưởng đến màu cuối cùng của hình ảnh. In chồng màu phụ thuộc vào thuộc tính vật lý và thuộc tính quang học. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến một vấn đề duy nhất là, với một loại mực có sẵn, thứ tự chồng màu nào cho tỷ lệ chồng màu mực (ITR) tốt nhất giữa hai màu.
Dựa trên định nghĩa của Ink trapping (chồng màu mực), chúng ta sẽ cùng phân tích về thứ tự in chồng màu và những tác động của nó mang lại.
Thuật ngữ sử dụng trong bài viết
Nip: vùng tiếp xúc giữa các lô mực, bản in và cao su, cao su và ống ép. Thường dùng theo nghĩa vùng ép in.
Ink trapping: chồng màu mực (hai, hoặc ba lớp mực chồng lên nhau)
Ink Trapping ratio (ITR): tỷ lệ chồng màu mực, được hiểu là tỷ lệ phần trăm màu sau bám lên lớp mực in trước đó, trong trạng thái cả hai cùng ướt (in ướt chồng ướt)
SID (Solid Ink Density): mật độ mực vùng tông nguyên
Overprint (op): vùng các màu chồng lên nhau. Ví dụ, Red là một overprint từ M và Y in chồng lên nhau
Tham khảo thêm: Printwiki.org
Giới thiệu
Máy in offset tờ rời nhiều màu rất phổ biến tại thị trường VN. Thị trường in ấn ngày nay cũng đòi hỏi phải in với nhiều màu hơn, số lượng in từ trung bình đến dài, thời gian chuẩn bị/đổi bài in ngắn hơn và chất lượng ổn định. Điều quan trọng đối với khách hàng là chúng ta có thể cân bằng giữa giá cả và chất lượng.
Tuy nhiên, chất lượng tổng thể của một máy in là một thực thể phức tạp, liên quan đến các khía cạnh kỹ thuật như tuổi thọ máy in, canh chỉnh thông số, tốc độ in, bảo trì, bảo dưỡng, dữ liệu đầu vào cũng như các thỏa thuận với khách hàng.
In là truyền mực từ bản in/cao su sang vật liệu. Tại nip in, mực bị chia tách ra. Một phần mực truyền đến bề mặt vật liệu, phần còn lại vẫn nằm trên bản in/cao su. Với câu hỏi đặt ra, “Việc tính giá trị trapping dựa trên mật độ có tương quan với nhau không?”. Do đó, giả định rằng, nếu màu chồng của hai màu mực có thể được xác định từ mật độ mực và thứ tự in của chúng, một nhà thiết kế hoặc vận hành máy in có thể dự đoán màu chồng của hai loại mực bất kỳ.
Về thứ tự mực in offset, thứ tự màu in CMY rất phổ biến, theo Graphic technology – Process control for the production of half-tone color separations, proof and production prints – Part 1: Parameters and measurement methods defines printing process control parameters. Ngày nay, nó cho thấy tầm quan trọng của ink trapping. Thay vì chỉ giá trị trapping, ISO chỉ định các giá trị đo trực tiếp màu của hai màu thành phần. tức là (Y + M) Red, (Y + C) Green và (M + C) Blue, và trong part 2:2013 Graphic technology— Process control for the production of halt-tone color separations, proof and production prints-Part 2: Offset lithographic processes.
Tuy nhiên, tranh cãi xảy ra, màu K (black) nên in đầu tiên hay là màu in cuối cùng. Có một số người ủng hộ K cuối cùng, trong khi những ý kiến khác thì ngược lại, họ cho rằng việc chồng các màu mực ướt của in offset tạo ra độ tương phản thấp hơn.
Ai đúng? và liệu có một câu trả lời đáp ứng tất cả các nhu cầu đa dạng của thợ in hay không? Cho dù K in đầu tiên hay cuối cùng có quan trọng hay không?. Thật ra, câu trả lời rất đơn giản, ảnh hưởng của thứ tự màu in đến màu sắc và chất lượng cuối cùng của hình ảnh, nó có cho phép các kết quả có thể lặp lại và dự đoán được hay không? đây mới là điều quan trọng.
Với rất nhiều loại mực khác nhau có trên thị trường. Trong hầu hết các trường hợp, thứ tự in chồng màu là KCMY cho máy in bốn màu hoặc CMYK cho máy in một hoặc hai màu, nhiều nhà in đã thực hiện các thứ tự màu kể trên để đạt được chất lượng ưng ý.
Các mô hình Ink trapping dựa trên quang phổ có thể dự đoán được màu chồng (op). Dữ liệu đầu vào bao gồm mật độ phản xạ vùng tông nguyên của hai màu mực thành phần và vật liệu in. Vấn đề là có hai ẩn số, hệ số ink trapping và màu của vùng chồng hai màu (op), trong một phương trình. Mối tương quan giữa hai thông số này như thế nào?, để giải quyết vấn đề này, thực nghiệm thực tế là cách tốt nhất để kiểm nghiệm hệ số Ink trapping.
Mục tiêu hướng tới là đạt được thứ tự màu in tốt nhất khi in chồng nhiều màu (ướt chồng ướt) bằng cách sử dụng mực process. Với 4 màu CMYK, chúng ta có thể tạo ra 24 tổ hợp chồng màu (bảng 1), mỗi một tổ hợp là các thứ tự màu in khác nhau. Ink trapping được tính toán theo mật độ của màu in thứ nhất và thứ hai, và ITR (%) của hai màu chồng lên nhau trong quá trình truyền mực ướt chồng ướt.
Hình 1: Tổ hợp 24 thứ tự chồng màu từ 4 màu CMYK.
Phương tiện thực nghiệm:
Máy in 4 màu: Komori LS 29.
- Mực Sumitec, ISO-2846-1
- Giấy in: Coathed 150 gsm
- Khổ: 54×40 (cm)
Dung dịch làm ẩm
- pH=4.8 – 5.2,
- temperature= 100 c,
- conductivity value= 800 ɥs/cm
Điều kiện đo
- Nhiệt độ phòng: 250
- Máy đo X-rite 530
Testform được thiết kế, với hình ảnh và các thang kiểm tra phù hợp với máy in, độ phân giải 175lpi.Các mục tiêu bao gồm một số hình mẫu kiểm tra và hình ảnh, được sử dụng để đánh giá chất lượng.
- Vùng đo: các ô tông nguyên màu CMYK, và các ô chồng màu R,G,B.
- Giá trị mật độ mực mục tiêu trên thang đo và dung sai (+/- 0,10) theo ISO-12647 -2 (2013).
Hình 2: Testform
Xác định tỷ lệ trapping (ITR). ITR dựa trên mật độ được định nghĩa là tỷ lệ chồng màu mực “ướt chồng ướt”. Tỷ lệ trapping dựa trên việc so sánh các giá trị mật độ. Ảnh hưởng của thứ tự màu in và tỷ lệ trapping đối với màu chồng, theo phương trình Preucil:%
| “F(%)”=(Dop- D1)/D2 x100 |
- Dop = Mật độ của 2 màu chồng, trừ mật độ giấy.
- D1 = Mật độ màu in thứ 1, trừ mật độ giấy.
- D2 = Mật độ màu in thứ hai, trừ mật độ giấy
Sau khi canh chỉnh chồng màu và SID theo giá trị mật độ tiêu chuẩn, máy in được chạy liên tục, không có sự can thiệp của người vận hành và bất kỳ sự thay đổi nào của các thông số in. Mỗi một thứ tự màu, in 100 tờ liên tục, chọn 10 tờ ngẫu nhiên để đo và phân tích mật độ. Chỉ các thuộc tính liên quan đến ink trapping được sử dụng để so sánh. Bao gồm SID của từng màu CMYK và SID của từng cặp màu chồng tạo ra là các ô RGB trên thang đo.
Sau khi in xong, các tờ in được để trong xưởng tám giờ để khô hoàn toàn, và đo lường các thuộc tính Trapping 10 tờ cho mỗi thứ tự in chồng màu. Các điều kiện đo theo ISO 5-3:2009 Photography and graphic technology — Density measurements — Part 3: Spectral conditions.
Kết quả
Kết quả đo được mô tả như trong bảng 2, gồm 24 thứ tự in chồng màu ở cột đầu tiên, từ trái qua phải. Cột thứ 2 là các thứ tự in chồng màu. Cột thứ 3 và thứ 4 là SID màu 1 và SID màu 2. Cột thứ 5 là giá trị % tỷ lệ chồng màu mực của hai màu (tỷ lệ trapping).
Hình 3: Kết quả đo ink trapping của 24 thứ tự chồng màu
Do đó, một tổ hợp thứ tự màu phù hợp được chọn, theo giá trị tham chiếu (X-Rite. 2010) phần trăm giá trị tiêu chuẩn trapping (đo ở Trạng thái-T, được tính bằng công thức Preucil)
| Red | Green | Blue | |
| Sheetfed Offset | 70 | 80 | 75 |
Bảng 3: Tham chiếu Ink trapping
Để so sánh giữa tất cả các thử nghiệm, chúng tôi hiển thị trong các số liệu trong các hình từ 4 – 11, có thể được xác định là tốt nhất của kết quả in màu ướt chồng ướt, bằng máy in offset tờ rời bốn màu.
Hình 4: So sánh giá trị tham chiếu và kết quả của thứ tự in chồng màu 1,2,3
Hình 5: So sánh giá trị tham chiếu và kết quả của thứ tự in chồng màu 4,5,6
Hình 6: So sánh giá trị tham chiếu và kết quả của thứ tự in chồng màu 7,8,9
Hình 7: So sánh giá trị tham chiếu và kết quả của thứ tự in chồng màu 10,11,12
Hình 8: So sánh giá trị tham chiếu và kết quả của thứ tự in chồng màu 13,14,15
Hình 9: So sánh giá trị tham chiếu và kết quả của thứ tự in chồng màu 16,17,18
Hình 10: So sánh giá trị tham chiếu và kết quả của thứ tự in chồng màu 19,20,21
Hình 4: So sánh giá trị tham chiếu và kết quả của thứ tự in chồng màu 22,23,24.
Qua khảo sát và thực nghiệm về thứ tự in chồng màu, dựa trên giá trị mật độ, có thể xác định tỷ lệ truyền mực của các màu tại vùng chồng màu (overprint) trong quá trình in ướt chồng ướt. Công thức của Preucil yêu cầu đo mật độ quang học của các màu mực và đo vùng chồng màu, để tính toán giá trị ink trapping.
Dựa trên một loạt các thử nghiệm về thứ tự chồng màu mực, với thông số các loại mực đã biết, được thực hiện ở đây. Chúng ta nhận thấy rằng độ bám mực có liên quan đến sự khác biệt về độ bám giữa lớp mực in xuống đầu tiên (cao) và lớp mực in thứ hai (thấp hơn).
Theo các kết luận trước đó, dựa trên sự so sánh các trình tự chồng màu, đưa đến kết luận rằng, thứ tự màu KMCY hoặc KMYC cung cấp khả năng Ink trapping tốt nhất so với các thứ tự chồng màu còn lại, trong tổ hợp 24 thứ tự chồng màu. Các thứ tự màu in này, thể hiện chi tiết của hình ảnh in tốt, có thể kiểm tra bằng mắt. Khi in 4 màu ướt chồng ướt, thứ tự KCMY được dùng phổ biến do các vấn đề liên quan đến thuộc tính quang học của mực.
Bạn nghĩ sao, nếu các nhà sản xuất mực, trong tương lai, có thể cung cấp các loại mực in, khi chúng ta in trên các loại giấy khác nhau, với thứ tự chồng màu khác nhau. Nhưng Ink trapping là một hằng số.
Tham khảo:
[1]. QUALITY CONTROL IN THE PRINTING INDUSTRY, www.cofomegra.it
[2]. Robert Chung and Fred Hsu, A Study of Ink Trapping and Ink Trapping Ratio, Test Targets, Rochester Institute of technology, 2008.
[3]. Evan Andersen, Effect of Ink Sequence on Offset & Digital Printing, Test Targets, Rochester Institute of technology, 2008.










