Prima.vn - Cổng thông tin điện tử ngành in và bao bì Việt Nam
Trang chủ » VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP IN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN (Phần cuối)

Chia sẻ

TIN TỨC

VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP IN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN (Phần cuối)

VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP IN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN (Phần cuối)

5. NÂNG CAO VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ NGÀNH IN VIỆT NAM QUA PHÁT TRIỂN LĨNH VỰC IN XUẤT KHẨU

Như đã phân tích ở trên, Ngành in cần phát triển thành cụm ngành thương mại để củng cố khả năng đáp ứng thị trường tại Việt Nam và phát triển xuất khẩu ra nước ngoài theo ưu thế sẵn có và khuynh hướng chuyển dịch của ngành in thế giới.

 

5.1. In xuất khẩu tại Việt Nam

Sự phát triển ngành in Việt Nam hiện nay gắn liền với thị trường in xuất khẩu vì:

  • Sự phát triển của ngành in gắn liền với nền sản xuất hàng hoá trong nước như một ngành công nghiệp phụ trợ vì để đóng gói sản phẩm nào cũng cần sản phẩm của ngành in. Đặc biệt là khi quy mô xuất khẩu của Việt Nam trong vòng 5 năm lại tăng lên gấp hơn hai lần về kim ngạch với giá trị hàng hóa xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD vào năm 2019, năm 2021 đạt 336,31 tỷ USD, tăng 19% so với năm 2022. Nếu ngành in và bao bì chiếm tỷ trọng vài phần trăm trong giá trị này thì chúng ta hoàn toàn tự tin ngành in Việt Nam trở thành ngành công nghiệp trọng điểm.
  • Việt Nam vẫn là điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư toàn cầu về ngành in và bao bì, các doanh nghiệp này sản xuất các sản phẩm in để xuất khẩu và dùng công suất dư ra để phục vụ cho các sản phẩm chất lượng cao trong nước.

Do tính mở của nền kinh tế, ngành in và bao bì Việt nam cũng có đầy đủ các đặc tính và xu hướng phát triển của ngành in thế giới. Tuy nhiên vẫn có những phát triển đặc thù. In xuất khẩu hiện nay đang được hiểu là:

  1. Sản xuất và xuất khẩu trực tiếp: Khách hàng từ các nơi trên thế giới đặt hàng ấn phẩm, các nhà in Việt Nam tạo ra ấn phẩm và xuất khẩu trực tiếp cho khách hàng.
  2. In gia công xuất khẩu: khi khách hàng nước ngoài chỉ yêu cầu nhà in gia công một phân đoạn cho họ. Thông thường là gia công in hay gia công thành phẩm và chuyển vào các khu chế xuất tại Việt Nam.
  3. Khách hàng nước ngoài đặt mua các ấn phẩm đang phát hành tại Việt Nam. Đây là trường hợp phổ biến khi các khách hàng là Việt Kiều đặt mua sách, lịch, kinh phật… đang bán ở Việt Nam.

Trong 3 trường hợp nêu trên thì trường hợp (1) được xem là in xuất khẩu đúng theo nghĩa của nó.

Trên thực tế ngành In chỉ đóng góp một phần trong giá trị sản phẩm xuất khẩu và tiêu biểu nhất là bao bì đóng gói sản phẩm. Việt Nam xuất khẩu trong năm 2020 dự kiến đạt giá trị gần 300 tỷ USD và câu hỏi là ngành in-bao bì đóng góp là bao nhiêu? Tổng giá trị sản xuất của ngành in trong năm 2018-2019 đạt gần 6 tỷ USD nhưng không có số liệu thống kê giá trị xuất khẩu vì nó còn quá nhỏ bé và các sản phẩm xuất khẩu không được tính như một sản phẩm độc lập mà thông thường tính vào giá trị hàng hóa. Như vậy chúng ta chỉ có thể nêu một vài ví dụ về in xuất khẩu cho các tập đoàn đa quốc gia ở các khu chế xuất như Samsung, LG… Đó là một hình thức xuất khẩu gián tiếp khi cung cấp bao bì cho các doanh nghiệp FDI sản xuất ở Việt Nam. Các nhà cung ứng cấp 1 cho Samsung, LG có thể kể như các công ty FDI, Bao bì Việt Hưng, Goldsun… Tại TP. HCM một số doanh nghiệp doanh nghiệp đã có hơn 10 năm xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm bao bì và sách cho thiếu nhi vào các thị trường khó tính nhất trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Canada, Châu Âu.

Cho đến nay chúng ta chưa có số liệu cụ thể về hoạt động in xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên các số liệu thống kê chưa chính thức cho thấy chỉ riêng doanh số in bao bì của các doanh nghiệp tại Việt Nam lên đến trên 2 tỷ USD và đang tăng trưởng khoảng 38% mỗi năm, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp FDI với các ấn phẩm thương mại cho thị trường Mỹ, bao bì thuốc lá, bao bì thực phẩm, bao bì nhựa các loại…

Đặc biệt trong thời gian qua, rất nhiều doanh nghiệp in và bao bì Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã chuyển dịch ồ ạt sang Việt nam và đó là những tập đoàn lớn, họ không chỉ sản xuất ấn phẩm mà sản xuất hàng hoá đa dạng dựa trên nền tảng của công nghiệp in và đóng gói, chỉ riêng các doanh nghiệp lớn về ngành giấy và các sản phẩm giấy của Trung Quốc cũng đã tuyển hàng chục ngàn lao động trong năm 2018-2021.

Hiện nay, các công ty in và bao bì nước ngoài đang mở rộng các hoạt động tại Việt Nam để phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp FDI và xuất khẩu. Chỉ riêng 8 tháng đầu năm 2021 đã có 20 doanh nghiệp In và bao bì được thành lập tại các tỉnh phía Bắc. Số lượng và số vốn đầu tư đủ lớn để được nêu trong báo cáo của House Link 2021

Hình 5.1:  Công ty In và Bao bì có vốn đầu tư Nước ngoài được thành lập trong 8 tháng đầu năm 2021 ở các tỉnh phía Bắc

Chúng ta thấy về quy mô ngành in và thị trường có sự tương đồng nhưng sự khác biệt lớn nhất đó là giá trị xuất khẩu của ngành in tạo ra. Thị trường in thương mại/ bao bì nội địa hiện đang bão hòa và có sự cạnh tranh gay gắt. Tiềm năng tăng trưởng và cơ hội chỉ có thông qua định hướng xuất khẩu trực tiếp sản phẩm. Hiện nay với làn sóng đầu tư trực tiếp của các nhà sản xuất hàng tiêu dùng, điện, điện tử sẽ kéo theo các nhà cung ứng trong chuỗi cung ứng của họ.

Thực tế này đã diễn ra với các tập đoàn in lớn của thế giới như Avery Dennison, CCL, StarPrint, SML… Các doanh nghiệp này hoạt động trong khu chế xuất và các sản phẩm của họ xuất khẩu trực tiếp cho các đối tác trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Các tập đoàn in lớn trên đây có những ưu thế về chuỗi cung ứng, quan hệ khách hàng và môi trường hoạt động có nhiều ưu đãi của đầu tư trực tiếp FDI điều này dẫn đến sự cạnh tranh không công bằng với các nhà sản xuất – nhà in nội địa. Các cơ quan quản lý nhà nước cần rà soát các quy định pháp luật phân biệt rạch ròi giữa ấn phẩm và bao bì, nhãn hàng tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động sản xuất của các cơ sở in và bao bì nội địa. Ngành sản xuất bao bì trong đó có ngành in nên được coi như một ngành công nghiệp phụ trợ, nội dung thông tin trên bao bì nên được kiểm soát bằng luật thương mại. Đối với văn hóa phẩm – sản phẩm chính của in thương mại việc quản lý nội dung là bắt buộc nhưng nếu xây dựng được cơ chế hậu kiểm hiệu quả, các nhà in sẽ có được thời gian phản ứng nhanh với các đòi hỏi của thị trường và thu ngắn khoảng cách cạnh tranh với các đối tượng FDI.

Vấn đề của các doanh nghiệp Việt Nam là làm sao có thể tham gia vào chuỗi cung ứng và có thể xuất khẩu trực tiếp sản phẩm in. Vốn, con người, thiết bị, điều kiện của chúng ta tương đồng với Thái Lan nhưng trình độ tổ chức sản xuất và mức độ hội nhập còn nhiều điều cần phải cải thiện.

In xuất khẩu bao gồm cả in thương mại lẫn in công nghiệp. Để ngành in tăng trưởng và giảm bớt các áp lực cạnh tranh trên sân nhà thì thị trường in xuất khẩu là một giải pháp tốt nhất.

 

5.2 Các yêu cầu của thị trường in xuất khẩu và khả năng đáp ứng của nhà in

Các thị trường xuất khẩu khác nhau có những yêu cầu khác nhau, trong đó có thể thấy thị trường thị trường Mỹ là tiêu biểu. Nếu đạt yêu cầu vào thị trường Mỹ thì việc chuyển sang các thị trường khác là điều dễ dàng. Xuất khẩu bao bì và ấn phẩm vào thị trường Mỹ là một hướng đi nhiều công ty đã theo đuổi trong nhiều năm và đã có những thành công nhất định.

Giữa bạt ngàn hàng hóa trong các siêu thị hay nhà sách ở nước ngoài, chúng ta phải trả lời câu hỏi “Ai là người cung cấp các ấn phẩm? Họ đã làm điều đó như thế nào? “. Nói rộng ra là làm cách nào chúng ta có thể tham gia chuỗi cung ứng hàng hóa của các hệ thống phân phối lớn trên thế giới với các sản phẩm là bao bì và ấn phẩm cho các chủ sở hữu thương hiệu. Sản xuất bao bì và ấn phẩm cho các thương hiệu được bán trong các hệ thống như Lowe’s, Target, Walgreens, CVS, Walmart hay Homedepot… luôn đòi hỏi các yêu cầu như trong hình 2.

Hình 5.2: Khái quát các yêu cầu đối với nhà cung ứng bao bì cho hàng hóa vào hệ thống các siêu thị Mỹ.

Các tiêu chí “Level of Service – Mức độ đáp ứng các dịch vụ”, “Partnership – Hợp tác” và “Sustainability & Social Responsibility – Phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội” là những điều kiện cần. Thỏa mãn tất cả các tiêu chí là điều kiện đủ. 

Các nhà In ở Việt Nam thường rất tự hào quảng cáo về năng lực sản xuất, trình độ công nghệ, trang thiết bị hiện đại, nhà xưởng to lớn và chất lượng sản phẩm cao. Tuy nhiên chúng ta lại chưa có minh chứng cho những tiêu chí này ngoài việc cho khách hàng thấy là nhà xưởng rất rộng, máy móc mắc tiền và hiện đại! Ngoài giá thành sản phẩm ra, tất cả các tiêu chí trên cần có sự chứng nhận của bên thứ ba thông qua các hệ thống kiểm định và cấp chứng chỉ. Việc lấy các chứng chỉ phải được coi như sự công nhận năng lực và khả năng của đơn vị và được áp dụng vào thực tế sản xuất hàng ngày. Đây là một thực tế vì giao được hàng hay không phụ thuộc vào việc chúng ta có tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, yêu cầu thể hiện qua các chứng chỉ. Để làm rõ hơn chúng ta sẽ đi vào chi tiết từng yêu cầu.

5.2.1 Mức độ đáp ứng

 “Cost – Giá” là yếu tố thuần túy thương mại. Dù xuất khẩu hay nội địa thì khách hàng luôn tìm kiếm giá tốt. Có thể thấy tỷ xuất lợi nhuận của in xuất khẩu có thể cao hơn nội địa nhưng nó tồn tại khả năng trả hàng rất cao nếu chúng ta không tuân thủ các quy định. Ba tiêu chí: Giá – Giao hàng đúng hạn – Chất lượng là các tiêu chí được đánh giá định kỳ thường là hàng quý. Tùy theo mức đạt được chúng ta sẽ được dồn nhiều đơn hàng hơn hay chấm dứt đặt hàng. Các chương trình đánh giá này được các công ty kiểm định bên thứ ba tiến hành và phụ thuộc vào chủ sở hữu nhãn hiệu. Nó rất khác nhau giữa các hệ thống.

Trong báo cáo về các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt nam của Robertarabellotti nêu rõ “Các doanh nghiệp FDI của nước ngoài có tỉ lệ nội địa hoá thấp vì các các công ty trong nước không có đủ năng lực đáp ứng xét về quy mô, giá thành và chất lượng sản phẩm. Báo cáo cũng nói rõ các nhà cung cấp dịch vụ In và bao bì trong nước có dịch vụ với các giá trị cộng thêm thấp nên chỉ làm nhà thầu phụ thứ cấp (Tier 2 hay Tier 3).

Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng quốc tế nhà in cần chất lượng dịch vụ và khả năng nghiên cứu phát triển sản phẩm, điều này phụ thuộc vào nguồn nhân lực chất lượng cao. Nếu doanh nghiệp không đầu tư cho nguồn lực từ 5 năm trở lên thì chúng ta khó đạt yêu cầu khi khách hàng đánh giá.

Một loạt các cam kết về môi trường, PCCC, an toàn lao động, trách nhiệm xã hội và các điều khoản thi hành cần được đánh giá bởi các cơ quan chuyên môn trước khi khách hàng đặt các điều kiện tiếp theo và đa số các nhà in của chúng ta chưa quan tâm đến điều này.

5.2.2 Chất lượng in

Chất lượng in ở đây được hiểu là sản phẩm in thỏa mãn các các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, có thể đo đạc được và đánh giá khách quan. Phần quan trọng hơn trong vấn đề chất lượng này là chúng ta có một hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng QA & QC tuân thủ các quy định của khách hàng và các tổ chức mà khách hàng tham gia. Một nhà in có khả năng in đạt chất lượng và có hệ thống quản lý chất lượng phù hợp phải được đánh giá và kiểm định bởi bên thứ 3. Ví dụ trong trường hợp xuất khẩu vào Mỹ, thông thường khách hàng sẽ yêu cầu nhà In phải có chứng chỉ GMI – Graphic Measures International.

Nếu nhà In có hay đã từng có chứng chỉ ISO 12647 thì các khách hàng Châu Âu sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều vì bản thân các nhà In lớn trên thế giới cũng khó đạt được tiêu chuẩn này.

Chứng chỉ GMI trong ngành in giống như giấy thông hành để tham gia vào chuỗi cung ứng. Khi có GMI – khách hàng trong hệ thống sẽ tự tìm đến nhà In. Tuy nhiên nhà in có in được cho họ hay không lại là câu chuyên khác. Hầu như tất cả các thương hiệu lớn đều dựa trên cơ sở GMI để đánh giá chất lượng in và dùng GMI để giải quyết các tranh chấp về chất lượng in. Trên thế giới có khoảng gần 1000 nhà in có GMI trong đó Trung Quốc chiếm hơn 300. Tại Việt Nam, số nhà in có GMI có thể đếm trên đầu ngón tay, tất cả doanh nghiệp có GMI đều là các công ty FDI như Avery Dennison, CCL, R-pack, Star Print…

Hình 5.3: Quá trình kiểm định GMI

Việc lấy chứng chỉ GMI rất công phu và phải mất nhiều tháng làm việc với cường độ cao, nó yêu cầu nhà In cần có đầu tư lớn và nó nên xuất phát từ yêu cầu của chủ hàng. Nhiều khách hàng chỉ quan tâm rằng nhà in có hay không có GMI và quá trình in hay QA & QC có thực hiện theo tiêu chuẩn GMI?

 

5.2.3 Hợp tác

Một trong những rào cản khi làm việc với các chủ hàng quốc tế là ngôn ngữ. Các nhân viên thương mại, các nhân viên điều hành sản xuất, QA/QC và các kỹ sư in – bao bì của công ty In phải thông thạo tiếng Anh để phụ trách các khách hàng cụ thể. Luôn luôn có vấn đề phát sinh – tiêu chí quan trọng nhất là thời gian phản ứng và cách giải quyết vấn đề thể hiện tinh thần hợp tác.

Làm việc trong môi trường thế giới phẳng và Internet cho nên doanh nghiệp phải được số hóa sâu rộng với mục đích dữ liệu luôn sẵn sàng cho việc truy cập, truy xuất, thống kê, theo dõi …

 

5.2.4 Phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội

Ngoài các tiêu chí về Chất lượng, Giá thành, Khả năng hợp tác, doanh nghiệp in phải thỏa mãn các tiêu chí về phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội. Câu chuyện lại lặp lại với việc kiểm định và lấy chứng chỉ của SA 8000, ICTI, SMETA hay… Khi thực thi các chứng chỉ này chúng ta đã tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về điều kiện sản xuất, sử dụng lao động, quyền lợi người lao động và việc tuân thủ luật pháp. Chất lượng nguyên vật liệu đầu vào được quy định bởi các chứn chỉ như FSC với nguyên liệu giấy được sản xuất từ rừng tái tạo…

Việc in bao bì và ấn phẩm xuất khẩu vào các thị trường lớn trên thế giới đòi hỏi doanh nghiệp phải tự mình thay đổi phương cách sản xuất, quản lý và cách tiếp cận khách hàng. Xây dựng doanh nghiệp của mình ngang tầm các đối thủ cạnh tranh trong chuỗi cung ứng và duy trì nó theo thời gian. Để không thua ngay trên sân nhà và thị trường lọt vào tay các doanh nghiệp FDI ngành In Việt nam cần có các doanh nghiệp nội địa thật sự hướng tới xuất khẩu. Con đường đơn giản nhất là tổ chức sản xuất và có hệ thống chứng chỉ giống như các doanh nghiệp FDI.

Chứng chỉ GMI đóng một vai trò vô cùng quan trọng vì nó quyết định năng lực nhà in trong lĩnh vực chất lượng và bảo đảm chất lượng. Việc lấy chứng chỉ GMI dẫn đến việc tổ chức sản xuất và quy trình kiểm phẩm phải đạt tiêu chuẩn quốc tế và hơn hết nó phải được ứng dụng trên từng đơn hàng xuất khẩu. Trong thời gian qua nhiều nhà in đã lấy các chứng chỉ ISO 12647-2 hay G7 nhưng đó là những chứng chỉ về khả năng in đạt chất lượng chứ không phải chứng chỉ có hệ thống bảo đảm chất lượng. Đó là điểm khác biệt lớn nhất giữa GMI với ISO 12647 hay G7.

Tổ chức lại sản xuất, lấy các chứng chỉ cần thiết là những việc cần làm nếu muốn khai thác thị trường in Xuất khẩu. Một thị trường nhiều tiềm năng có nhiều dư địa phất triển bền vững mà chúng ta cần khai phá.

6. KẾT LUẬN

Ngành In xếp hạng thứ 29 trong danh sách các ngành tạo ra nhiều việc làm và đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân bởi tính ổn định và không gian phát triển của ngành. Nếu xem ngành Giấy, bao bì, thiết kế và xuất bản trong mối liên hệ cụm ngành gần thì cụm ngành này đứng ở vị trí thứ 17 trong 51 cụm ngành trọng điểm của Việt Nam. Tuy ngành in chưa được coi là ngành chiến lược nhưng GDP trên đầu người và vai trò rất quan trọng như một ngành công nghiệp phụ trợ đã được xác định thì ngành in lại có một không gian phát triển rộng lớn nếu được quan tâm và đầu tư đúng mức.

Việc mở rộng và phát triển thị trường in xuất khẩu chắc chắn sẽ làm tăng vị thế của ngành công nghiệp in trong nền kinh tế quốc dân. Thị trường in xuất khẩu có nhiều cơ hội cùng với đà phát triển của kinh tế Việt Nam nhưng kèm theo nó là nhiều thách thức. Nếu chúng ta không nâng tầm lên ngang bằng những công ty đa quốc gia hoặc ít nhất đáp ứng yêu cầu tương đối của các nhà sản xuất nước ngoài tại Việt Nam thì có nguy cơ thị trường bị chiếm lĩnh bởi các công ty này.

Đối với quản lý nhà nước điều cần thiết là thiết lập được môi trường kinh doanh công bằng giữa các nhà sản xuất nội địa và FDI trong đó trọng tâm là là thuế, ưu đãi đầu tư, mặt bằng cũng như giấy phép

Đối với cơ sở sản xuất trên cơ sở đầu tư thiết bị nâng cao năng lực sản sản xuất thì những mục tiêu sau là vô cùng quan trọng để có thể khai thác tối đa năng lực sản xuất phục vụ xuất khẩu:

  • Tối ưu hóa quá trình quản lý sản xuất công nghiệp theo các tiêu chuẩn quốc tế. Bảo đảm chất lượng, phát triển bền vững với vật liệu thân thiện môi trường
  • Số hóa, phát triển doanh nghiệp năng động, linh hoạt hội nhập thương mại toàn cầu.
  • Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng các đòi hỏi của thị trường in xuất khẩu. Nguồn nhân lực ở đây không giới hạn trong kỹ thuật in thuần túy mà còn vô cùng cần thiết trong lĩnh vực vật liệu, kiểm định, thương mại, quản lý sản xuất, QA&QC.

In xuất khẩu là con đường phát triển bền vững của ngành in Việt Nam. Nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ và thiết thực của các cơ quan quản lý, sự năng động và tinh thần thương trường như chiến trường của các cơ sở in – bao bì sự đóng góp của ngành in Việt Nam trong sự phát triển của nền kinh tế sẽ có nhưng tiến bộ vượt bậc.

 

PGS.TS Ngô Anh Tuấn – Chủ tịch hội in TPHCM

(XEM LẠI PHẦN 3)

90 bình luận

Bình luận