Prima.vn - Cổng thông tin điện tử ngành in và bao bì Việt Nam
Trang chủ » Các kiểu máy ghi bản

Chia sẻ

CÔNG NGHỆ / TRƯỚC IN

Các kiểu máy ghi bản

Các kiểu máy ghi bản

Các kỹ thuật CTP (Computer – to – plate) khác nhau dựa trên hai yếu tố – cấu trúc và nguồn sáng. Về cấu trúc, có 3 kiểu máy ghi mà doanh nghiệp có thể lựa chọn, bao gồm: máy ghi dạng trống nội (Internal Drum Imagesetters), máy ghi dạng trống ngoại (External Drum Imagesetters), máy ghi dạng phẳng (Flat-bed Imagesetters). Ngoài ra còn có hai nguồn ánh sáng chính – đèn tia cực tím và điốt laze để ghi bản. Lựa chọn giải pháp đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu kinh doanh của bạn có thể tùy vào ưu nhươc điêm, giá cả, chi phí bảo trì và các mối quan tâm về môi trường.

Với máy ghi dạng trống nội (Internal Drum Imagesetters)

Vật liệu được gắn ở bên trong lòng ống. Vòng ghi tối đa cho máy ghi phim có thể lên đến 270º (máy magnum của Purup-Eskofot) Trong khi hầu hết các máy ghi bản vùng ghi tối đa là 180º (Agfa sử dụng 193º cho máy New Galileo).

Một gương phản xạ (gương xoay đa giác) xoay với tốc độ cao trên đệm chân không, nguồn phát laser chỉ có một tia duy nhất (single beam). Gương phản xạ di chuyển dọc theo trục ống với bước tăng bằng chiều rộng một đường quét. Gương luôn luôn phản xạ ánh sáng laser chiếu đến nó với một góc bằng 90º lên vật liệu nhạy sáng, vật liệu này được cố định và ép sát vào bề mặt trong của drum nhờ hệ thống hút hơi. Tia laser sẽ được xác định chính xác tiêu cự lên bề mặt vật liệu và ghi một điểm với kích thước điểm theo yêu cầu. Kích thước điểm tram này sẽ thay đổi tùy theo độ phân giải. Khoảng cách giữa bề mặt vật liệu và gương xoay là một hằng số điều này sẽ bảo đảm kích thước điểm cũng như tiêu cự sẽ là như nhau trên toàn bộ bề mặt bản mà không cần một hệ thống quang học đặc biệt.

Máy ghi dạng trống ngoại (External Drum Imagesetters)

Ở dạng trống ngoại, vật liệu được gắn trên bề mặt ngoài của ống. Đầu ghi được di chuyển song song với trục ống và có thể có một hay nhiều tia laser. Các tia laser được chiếu vuông góc lên bề mặt vật liệu. Khoảng cách giữa đầu tia đến mặt vật liệu rất ngắn và luôn luôn là hằng số. Để bảo đảm điều này, các máy dạng trống ngoại thường có hệ thống chống rung ống khi quay.

Để nâng cao tốc độ ghi ảnh, các hãng sản xuất sử dụng đầu ghi nhiều tia để ghi dữ liệu. Do vậy, đường quét sẽ trở nên phức tạp hơn, sau mỗi vòng quay của ống, toàn bộ chùm tia phải được nhích sang vị trí mới kề ngay chùm đường đã quét trên mặt vật liệu.

Máy ghi dạng phẳng (Flat-bed Imagesetters)

Khác với hai dạng trên, đối với máy ghi dạng phẳng vật liệu được ghi hình trong tư thế phẳng. Máy ghi dạng phẳng sử dụng một trong ba phương pháp sau để di chuyển bản in:

  • Dạng 1: Vật liệu và mặt phẳng mà nó được đặt lên sẽ đứng yên trong khi đó đầu ghi sẽ di chuyển.
  • Dạng 2: Vật liệu và mặt phẳng mà nó được đặt lên sẽ chuyển động cùng lúc trong khi gương xoay định hướng tia rọi.
  • Dạng 3: Sử dụng hệ thống di chuyển bản in theo kiểu Capstan vật liệu sẽ được di chuyển nhờ các lô kéo.

Các máy ghi dạng phẳng nói chung có cấu trúc đơn giản hơn các máy ghi dạng trống. Nó có thể nạp hoặc lấy vật liệu dễ dàng cũng như việc đục lỗ dễ dàng hơn. Cấu trúc dạng phẳng Capstan (dạng 3) trước đây rất thông dụng trong những thế hệ máy ghi phim đầu tiên, nhưng ngày nay chúng không còn thông dụng so với các thế hệ máy dạng trống có thể ghi được trên các khổ vật liệu có kích thước lớn hơn nhiều.

Máy ghi dạng 2 và 3

Máy ghi dạng Capstan

Các hệ thống ghi bản dạng phẳng việc nạp và xuống bản nhanh hơn hai hệ thống kia Tuy nhiên, do giới hạn về kích thước ghi nên thông thường nó chỉ thích hợp in báo hoặc các ấn phẩm thương mại khổ nhỏ.

Để khắc phục nhược điểm về chiều dài ghi, một số hãng đã sản xuất máy ghi dạng phẳng với hệ thống nhiều đầu ghi hoặc đầu ghi nhiều tia. Chẳng hạn:

      • Barco Graphic sử dụng 3 hoặc 5 đầu ghi
      • ICG sử dụng đầu ghi nhiều tia gắn trên một đế di chuyển băng ngang qua bề ngang vật liệu và ghi 512 tia trong mỗi lần ghi.

Một số ưu và nhược điểm của các kiểu máy ghi

    Kiểu máy ghi                    Ưu điểm                    Nhược điểm
Máy ghi dạng trống nội + Chất lượng cao.

+ Vật liệu nằm trong trạng thái tĩnh trong suốt quá trình ghi nên có độ chính xác cao.

+ Đục lỗ định vị ngay trong máy khi vật liệu đã vào đúng vị trí.

+ Đầu ghi chỉ có một tia nên cường độ tia laser ổn định do đó ít gây nên hiện tượng sọc (stitching).

+ Đầu ghi chỉ có một tia nên khoảng rộng điều chỉnh tiêu cự (depth of focus) lớn hơn, do đó chất lượng hình ảnh cũng như độ phân giải sẽ cao hơn.

+ Dể dàng nạp vật liệu nếu sử dụng khổ nhỏ (ưu điểm này thường thể hiện rõ đối với máy ghi bản).

+ Đầu ghi chỉ có một tia đơn nên chỉ tác dụng trên từng điểm, từng phần trên vật liệu.

+ Đầu ghi nằm xa vật liệu nên đòi hỏi tia laser phải có năng lượng lớn.

+ Thời gian ghi lâu hơn máy ghi dạng trống ngoại.

+ Đối với máy ghi bản khổ lớn sẽ rất khó khăn khi nạp bản.

Máy ghi dạng trống ngoại + Chất lượng cao.

+ Đầu ghi được đặt gần vật liệu hơn nên bảo đảm độ chính xác hơn cũng như có khả năng tập trung được năng lượng laser nên rất thích hợp với việc ghi bản nhiệt (bản thermal) ở các máy ghi bản.

+ Thời gian ghi bản nhanh hơn máy ghi dạng trống nội do đầu ghi có nhiều tia.

+ Đầu ghi có nhiều tia nên tốc độ của trống giảm do đó có độ cân bằng động cao hơn (Độ cân bằng động sẽ giảm theo tỉ lệ bình phương với tỉ lệ tốc độ quay. Chẳng hạn trống quay tốc độ 500 vòng / phút sẽ có độ bằng động thấp hơn trống quay với tốc độ 150 vòng / phút khoảng 10 lần).

+ Hệ thống hút hơi phức tạp hơn do phải bảo đảm việc giữ trống chắc chắn trên trống.

+ Vật liệu gắn trên trống quay nhanh nên sẽ rất nguy hiểm nếu vật liệu bị văng ra khi đang ghi.

+ Hệ thống hút chân không quá mạnh sẽ làm biến dạng những vật liệu mỏng làm giảm độ chính xác.

+ Đầu ghi có nhiều tia nên việc điều chỉnh, sửa chữa phức tạp. Mặt khác với đầu ghi nhiều tia phải đòi hỏi hệ thống nguồn laser phải ổn định và hệ thống quang học phức tạp để tránh hiện tượng cường độ các tia laser khác nhau gây hiện tượng sọc trên vật liệu (hiện tượng stitching).

Máy ghi dạng phẳng + Do cấu trúc phẳng nên dễ dàng cho việc nạp, tháo cũng như di chuyển vật liệu.

+ Chất lượng cao (cho máy ghi phẳng dạng 1)

+ Độ chính xác không cao do trong quá trình ghi vật liệu phải di chuyển (cho máy ghi dạng 2 và 3).

+ Giới hạn về chiều rộng vật liệu do đó thường không thích hợp cho các loại máy ghi bản khổ lớn (cho máy ghi dạng 2 và 3).

+ Khoảng cách giữa đầu ghi với các điểm trên bề mặt vật liệu không bằng nhau làm cho tia laser bị biến dạng ở những phần cạnh của vật liệu (cho máy ghi dạng 2 và 3).

+ Tốc độ ghi chậm (cho máy ghi dạng 1).

Trên đây là một số thông tin về các kiểu máy ghi bản, hi vọng sẽ là nguồn thông tin bổ ích cho bạn đọc, giúp mọi người có thể lựa chọn giải pháp sử dụng kiểu máy ghi phù hợp.

Không có bình luận

Bình luận