Prima.vn - Cổng thông tin điện tử ngành in và bao bì Việt Nam
Trang chủ » ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGÀNH IN VIỆT NAM

Chia sẻ

THỊ TRƯỜNG / Tin nổi bật / XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN

ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGÀNH IN VIỆT NAM

ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH  ĐỐI VỚI NGÀNH IN VIỆT NAM

Trong khuôn khổ Hội nghị tổng kết ngành in Việt Nam năm 2021 và phương hướng nhiệm vụ năm 2022 được chủ trì bởi Lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông. Nhiều tham luận của các chuyên gia đầu ngành về hiện trạng ngành in Việt Nam và xu hướng phát triển. Được sự đồng ý của các tác giả, Học viện PrintMedia Việt Nam sẽ lần lượt đăng các nội dung liên quan đến Hội nghị nhằm mang lại các thông tin bổ ích cho quý vị.

ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGÀNH IN VIỆT NAM 

Ông Nguyễn Đức Thanh, Phó Chủ tịch HH In Việt Nam

Chủ tịch Hội In Hà nội, Chủ tịch Công ty TNHH một thành viên In Tiến Bộ 

“Đề xuất cơ chế chính sách đối với ngành in nhằm phát triển ngành in Việt Nam” gồm một số vấn đề cụ thể sau đây:

 Vấn đề thứ nhất. Về thực hiện Luật Xuất bản: 

Luật Xuất bản được Quốc hội thông qua năm 2012. Sau 10 năm thực hiện Luật ngành xuất bản, in và phát hành Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Theo báo cáo của Cục Xuất bản, In và phát hành thống kê hiện nay trên toàn quốc có 25.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động in, trong đó chỉ có khoảng 2.300 cơ sở in được cơ quan quản lý nhà nước cấp giấy phép hoạt động; sự tăng trưởng của ngành đạt mức trên 10%/năm; có thể nói rằng Luật Xuất bản ra đời đã thúc đẩy ngành xuất bản, in và phát hành Việt Nam phát triển ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên qua 10 năm thực hiện Luật đã phát sinh một số vướng mắc cần được cơ quan chức năng xem xét sửa đổi bổ sung cho phù hợp với xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới và tình hình thực tế tại Việt Nam, đó là: 

1- Tại điểm a khoản 1 điều 32 Luật Xuất bản quy định “Người đứng đầu cơ sở in phải là công dân Việt Nam, thường trú tại Việt Nam, có nghiệp vụ quản lý hoạt động in xuất bản phẩm và đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật”. Qua thực tiễn thực hiện chúng tôi thấy có nhiều bất cập và không còn phù hợp, đề nghị xem xét bãi bỏ điều kiện người đứng đầu cơ sở in phải có nghiệp vụ quản lý hoạt động in xuất bản phẩm (giấy chứng nhận qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ do Bộ Thông tin & Truyền thông tổ chức) cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam. Bởi lẽ trong thực tế hiện nay có nhiều cơ sở in người đứng đầu doanh nghiệp (người đại diện pháp luật của doanh nghiệp) nhưng không trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất in của doanh nghiệp (chủ tịch HĐQT, Chủ tịch Công ty); người điều hành hoạt động sản xuất in hàng ngày là Tổng Giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp hoặc người được người đứng đầu doanh nghiệp phân công. 

2- Tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật xuất bản quy định “Bảo đảm các điều kiện về an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật”. Theo quy định của Luật xuất bản cơ sở in muốn hoạt động được phải được cơ quan công an cấp giấy phép bảo đảm an ninh trật tự; hiện nay các doanh nghiệp in đều có nhà xưởng đầu tư từ nhiều năm trước, một số thuê lại từ các nhà xưởng sản xuất ngành nghề khác nên không thể đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về phòng cháy chữa cháy theo quy định hiện nay của Bộ công an. Trong thời kỳ hội nhập và phát triển như hiện nay thì doanh nghiệp in xuất bản phẩm cũng giống như các doanh nghiệp sản xuất ngành nghề khác đều hoạt động theo Luật doanh nghiệp và quy định của pháp luật Việt Nam, sản xuất, kinh doanh ngành nghề mà pháp luật Việt Nam không cấm. Do đó, việc cấp giấy phép hoạt động in theo thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông nếu thấy đáp ứng đủ các điều kiện về máy móc thiết bị, nhà xưởng thì vẫn được phép hoạt động in, còn việc đáp ứng về điều kiện an ninh trật tự cũng như điều kiện về vệ sinh môi trường theo quy định của Bộ Công an và Bộ Tài nguyên Môi trường thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện nhưng không xây dựng văn bản pháp luật theo hướng có điều kiện này mới được cấp phép vì như vậy làm khó cho cơ sở in, đồng thời làm kìm hãm sự phát triển của ngành in. Vì vậy, đề nghị Bộ Thông tin & Truyền thông tham mưu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét này sửa cho phù hợp với thực tiễn và có tính đến sự phát triển. 

Vấn đề thứ hai: Về thực thi Nghị định 60/2014/NĐ-CP và Nghị định 25/2018/NĐ-CP và Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg. 

Những năm gần đây, nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có một số quy định liên quan đến hoạt động của cơ sở in, như: Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg ngày 19/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng…. Sau 3 năm thực hiện chúng tôi nhận thấy rằng một số quy định chưa rõ ràng, cụ thể: một số tiêu chí nhập khẩu máy móc, thiết bị quy định tại Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg rất khó thực hiện, mặt khác hầu hết các doanh nghiệp in của Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ nếu nhập máy mới thì không có khả năng về tài chính. Vì vậy, Nghị định số 60/2014/NĐ-CP, Nghị định số 25/2018/NĐ-CP cần được sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện, tập trung vào một số vấn đề hạn chế, vướng mắc, bất cập sau đây: 

1. Tại Nghị định số 60/2014/NĐ-CP và Nghị định số 25/2018/NĐ-CP chưa có quy định về cấp giấy phép hoạt động in, xác nhận tờ khai đăng ký hoạt động cơ sở in cho chi nhánh của cơ sở in đặt ở tỉnh/thành phố khác, vấn đề này gây khó khăn, vướng mắc cho cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở in thực hiện thủ tục hành chính (không có cơ sở pháp lý để thực hiện). Vì vậy, cần thiết phải bổ sung quy định này để hoàn thiện khung pháp lý, làm cơ sở cho cơ quan quản lý nhà nước và cơ sở in thực hiện thủ tục hành chính được minh bạch, thuận lợi. 

2. Quy định về việc nhập khẩu thiết bị in (bao gồm máy chế bản trước in, máy in và máy gia công sau in) tại Nghị định số 60/2014/NĐ-CP, Nghị định số 25/2018/NĐ-CP và Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ được giao cho nhiều cơ quan, tổ chức tham gia thực hiện (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ quan lãnh sự, tổ chức giám định, nhà sản xuất thiết bị), đang gây chồng chéo, khó khăn, vướng mắc, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về ngành in. Vì vậy, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung, thống nhất việc quản lý nhập khẩu thiết bị in trong cùng một hệ thống văn bản pháp luật và giao cho một đầu mối cơ quan quản lý nhà nước về ngành in thực hiện. Nếu như giao cho nhiều cơ quan thực hiện dẫn đến sinh ra nhiều giấy phép con, gây cản trở, tốn kém cho doanh nghiệp. 

3. Quy định về điều kiện nhận in của cơ sở in, cụ thể là quy định đối với“Bản mẫu của sản phẩm đặt in phải được đóng dấu hoặc có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của tổ chức hoặc chữ ký của cá nhân có sản phẩm đặt in;” (Nghị định số 25/2018/NĐ-CP) không còn phù hợp thực tiễn hiện nay (bản mẫu từ khi ký đặt in đến khi chế bản, lên khuôn máy hoặc trong quá trình in, nhiều trường hợp phải thay đổi nhiều lần do phát hiện lỗi hoặc người đặt in muốn thay đổi. Theo đó, sẽ phải ký đi ký lại nhiều lần bản mẫu, gây khó khăn cho bên đặt, nhận in). Hơn nữa, đây là giao dịch mang tính cam kết dân sự thuộc về kỹ thuật trong hoạt động sản xuất hàng hóa giữa hai bên, nhà nước không cần can thiệp. Vì vậy, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp và sự phát triển công nghệ thông tin hiện nay. 

4. Quy định về điều kiện nhận chế bản, in và gia công sau in bao bì, nhãn hàng hóa đã được Nghị định số 60/2014/NĐ-CP quy định, tuy nhiên, Nghị định số 25/2018/NĐ-CP đã bãi bỏ quy định này, gây khó khăn cho công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xác định sản phẩm in tem, nhãn hàng hóa là thật hay giả, cũng như chưa có quy định đối với người đặt in để hạn chế các sản phẩm giả lưu hành trên thị trường. Vì vậy, cần thiết nghiên cứu và đưa quy định này trở lại để kiểm soát, đặc biệt là một số sản phẩm có ảnh hưởng đến sức khỏe con người. 

Vấn đề thứ ba: Để giúp các nhà in của Việt Nam, đề nghị Bộ tham mưu với Chính phủ ban hành các văn bản hướng dẫn các địa phương, đặc biệt là các thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố trực thuộc Trung ương…) có các khu công nghiệp giành riêng cho các nhà in và một số ngành phụ trợ ngành in. Khuyến khích hình thành khu công nghiệp in, chuyên in và gia công phục vụ xuất khẩu và đổi mới công nghệ theo kịp thời đại. Nếu có quy hoạch, có chính sách thu hút đầu tư và đầu tư chiều sâu, ngành in Việt Nam sẽ phát triển ngang tầm khu vực đồng thời, tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước quản lý dễ quản lý. Kiến nghị chính phủ có chính sách hỗ trợ bằng thuế nhập khẩu, thuế VAT các máy móc thiết bị mới; có chính sách ưu đãi nhất định về thuế đất và tiền thuê đất trả tiền hàng năm cho các doanh nghiệp khi di dời. 

Trên đây là một số ý kiến tham gia đóng góp vào dự thảo báo cáo và đóng góp để hoàn thiện pháp luật chung cho ngành in sao cho các doanh nghiệp in thực hiện các thủ tục hành chính thuận lợi, ngành in có cơ hội phát triển. Một lần nữa xin kính chúc đồng chí chủ trì hội nghị, các quý vị đại biểu tham dự hội nghị sức khoẻ, hạnh phúc và thành công. 

 

96 bình luận

Bình luận