Prima.vn - Cổng thông tin điện tử ngành in và bao bì Việt Nam
Trang chủ » BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI IN VIỆT NAM NHIỆM KỲ III  VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM KỲ IV 2022 – 2027

Chia sẻ

TIN TỔNG HỢP / TIN TỨC

BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI IN VIỆT NAM NHIỆM KỲ III  VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM KỲ IV 2022 – 2027

BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI IN VIỆT NAM NHIỆM KỲ III  VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM KỲ IV 2022 – 2027

 

BÁO CÁO 

HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI IN VIỆT NAM NHIỆM KỲ III  VÀ PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM KỲ IV 2022 – 2027 

—————————————–

I/ Hiện trạng ngành công nghiệp in Việt Nam và hoạt động của Hiệp hội in Việt Nam giai đoạn 2016 – 2021. 

1. Hiện trạng của ngành công nghiệp in Việt Nam 

1.1. Những cơ hội và thách thức 

Ngoài chức năng phục vụ nhiệm vụ chính trị về phát triển giáo dục, văn hóa, thông tin, tuyên truyền, ngành công nghiệp in Việt Nam ngày càng gắn kết chặt chẽ với các ngành kinh tế khác của Việt Nam với vai trò là một ngành công nghiệp phụ trợ phục vụ trong nước và xuất khẩu.  

Thuận lợi và cơ hội:  

– Việt Nam, với quy mô dân số gần 100 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới, quy mô kinh tế xếp thứ 40 toàn cầu và thứ 4 trong khối ASEAN. Năm 2021, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 668,55 tỷ USD, Trong đó xuất khẩu là 336,3 tỷ USD, Tăng 19 % so với năm 2020 là một trong 20 nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.  

– Môi trường kinh doanh tại Việt Nam đang dần được cải thiện với quyết tâm cao của chính phủ để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp, trong đó có các nhà đầu tư nước ngoài. Về mặt này Việt Nam được xếp thứ 17/40 nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.  

– Về hỗ trợ doanh nghiệp, xây dựng và quảng bá thương hiệu trong và ngoài nước, sự năng động và nỗ lực của các doanh nghiệp đã đưa giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam đạt 319 tỷ USD, là mức tăng cao nhất, đạt thứ hạng 33 trên thế giới, hệ số tín nhiệm quốc gia từ mức ổn định đã lên mức tích cực.  

– Giai đoạn 2016 – 2021 Việt Nam được đánh giá là giai đoạn hội tụ các thành tựu kinh tế – xã hội cao nhất của Việt Nam với nền kinh tế tích cực cả về quy mô và chất lượng, quan hệ kinh tế rộng mở, vị thế được cũng cố và nâng cao, thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài. 

– Việt Nam được thế giới đánh giá cao trong việc khống chế đại dịch Covid-19 nhờ sớm phủ vắcxin và các biện pháp quyết liệt của chính phủ và ý thức của người dân cũng như các nỗ lực vượt khó của các doanh nghiệp.  

– Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương nơi hội tụ dòng chuyển dịch các dịch vụ in ấn, gia công, in xuất khẩu của thế giới, nơi chiếm giữ gần 1/3 sản lượng in ấn toàn cầu, nơi đầu tư và thu hút các nhà đầu tư vào ngành công nghiệp in mạnh nhất trên thế giới.

Với vị trí địa lý thuận lợi và nền kinh tế mở, Việt Nam trở thành tâm điểm của các nhà đầu tư nước ngoài, kể cả từ các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore 

Khó khăn và thách thức:  

– Giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp in Việt Nam còn thấp, năng lực quản trị doanh nghiệp của khá nhiều doanh nghiệp còn non yếu, năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế thấp nên không đủ sức hấp thụ các nguồn việc có chất lượng, giá trị kinh tế cao ở trong nước và từ thị trường quốc tế.  

– Việc chuyển đổi số trong toàn ngành còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành Thông tin và Truyền thông, chủ trương của Chính phủ và còn có khoảng cách khá xa so với xu thế và trình độ chung của thế giới. Thương mại điện tử còn kém phát triển, trên 2/3 giao dịch thương mại vẫn theo lối cũ, phần lớn dựa trên mối quan hệ, không theo kịp phương thức giao dịch thương mại tiên tiến của thế giới, chi phí giao dịch cao, giá cả đầu vào và đầu ra thiếu cạnh tranh dẫn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp.  

– Sức hút nguồn nhân lực vào ngành in thấp, chất lượng đào tạo nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, trong khi một số nước trong khu vực lại thu hút được nhân lực từ Việt Nam như Thái Lan, Malaixia. Kể cả các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vẫn giải quyết ổn thỏa nhu cầu về lao động của chính họ. 

– Nguồn nguyên liệu cho ngành in phần lớn phải nhập khẩu, trừ giấy sản xuất trong nước đã chiếm trên 50% nhu cầu nhưng chỉ là các loại giấy có chất lượng không cao, đặc biệt là giấy cho bao bì, nhãn mác, dẫn đến tình trạng thiếu chủ động, phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung từ nước ngoài, chi phí nhập khẩu, logictics cao, nhất là trong bối cảnh mấy năm gần đây.  

– Việc bảo vệ môi trường, đóng cửa hàng loạt các nhà máy giấy ở Trung Quốc và một số quốc gia khác đã tạo cơn sốt giá giấy suốt từ năm 2020 đến nay, đặc biệt là các loại giấy phục vụ in bao bì, nhãn mác, cộng thêm một số yếu tố khác đã làm cho chi phí sản xuất của các nhà in tại Việt Nam tăng cao, giá bán sản phẩm điều chỉnh không theo kịp làm cho biên lợi nhuận của ngành in giảm sút nghiêm trọng.  

– Đại dịch Covid-19 kéo dài suốt từ năm 2020 đến nay đặc biệt nghiêm trọng từ giữa năm 2021 đã bào mòn đáng kể sức lực của phần lớn các nhà in, gây hậu quả khá nghiêm trọng và lâu dài.  

Cuộc chiến tranh Nga – Ukraina bùng nổ vào đầu năm nay đã làm đảo lộn nền kinh tế thế giới, lạm phát tăng cao, giá nhiên liệu, hóa chất và các loại vật tư khác đều tăng theo, ảnh hưởng không nhỏ đến các ngành kinh tế, trong đó có ngành in không là ngoại lệ.  

Những thuận lợi và khó khăn kể trên đã có những tác động không nhỏ đến sự phát triển của ngành in nước ta trong thời gian qua và những năm tiếp theo.  

1.2. Những biến động của ngành công nghiệp in Việt Nam giai đoạn 2016 – 2021:  – Mặc dù có một số nhà in nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu đã phải đóng cửa nhưng tổng số cơ sở in cả nước vẫn tăng. Theo số liệu của Cục xuất bản, In và Phát hành, năm 2021 số lượng nhà in công nghiệp cả nước đã tăng 4,1% so với năm trước, trong đó khu vực có tỷ lệ tăng cao nhất là Đồng bằng Bắc Bộ – 9,8, Hà Nội tăng 8,6% và thành phố Hồ Chí Minh tăng

5,6% đưa tổng số nhà in cả nước lên trên 2.300 Đơn vị. Con số này có thể cao hơn do hoạt động in, nhất là in nhãn mác, bao bì có thể ẩn dưới hoạt động sản xuất kinh doanh khác. Phần lớn các doanh nghiệp in do địa phương quản lý, chiếm 95 %, phần lớn là các doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp đã cổ phần hóa hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 5 % còn lại -112 doanh nghiệp do Trung ương quản lý là những doanh nghiệp đặc thù không hoặc chưa cổ phần hóa. Theo cơ cấu sản phẩm thì các doanh nghiệp in tổng hợp, vừa in xuất bản phẩm vừa in các sản phẩm khác chiếm 51 % các doanh nghiệp chuyên in bao bì, nhãn hàng chiếm 49 % nhưng sản lượng của khối nhà in này lại chiếm trên 2/3 sản lượng toàn ngành, trong đó có khá nhiều doanh nghiệp bao bì có doanh thu từ vài trăm đến hàng ngàn tỷ đồng/ năm. Theo nguồn vốn đầu tư, doanh nghiệp có vốn đầu tư Việt Nam 100 % chiếm 85, 8 % còn khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (328 doanh nghiệp) chiếm 14,2% nhưng sản lượng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tới gần 40% do hầu hết các doanh nghiệp này đều có doanh thu lớn, từ vài trăm tỷ đến vài ngàn tỷ đồng /năm. 

– Tổng doanh thu toàn ngành năm 2021, theo con số thống kê của Cục Xuất bản, In và Phát hành là 86.460 tỷ đồng (khoảng 3,8 tỷ USD). Thực tế con số này còn cao hơn đáng kể dựa trên phân tích khối lượng nguyên liệu chủ yếu sử dụng trong ngành in nước ta. Theo số liệu của Hiệp hội giấy Việt Nam, năm 2021 số lượng giấy sản xuất trong nước và nhập khẩu là 5,45 triệu tấn. Trong số đó có khoảng 4 triệu tấn được sử dụng trong ngành in. Như vậy doanh thu in trên giấy của Việt Nam đã đạt khoảng 90.000 tỷ đồng. Ngoài in trên giấy, ngành in còn sử dụng và in trên nhựa, kim loại và một số vật liệu khác. Riêng bao bì nhựa hiện khá phổ biến trong công nghiệp thực phẩm và nhiều mặt hàng khác, công nghiệp bia và nước giải khát thì sử dụng khá nhiều lon nhôm được in trực tiếp bằng các thiết bị chuyên dụng. Số lượng nhựa tiêu thụ của Việt Nam cũng ở mức trên 5 triệu tấn. Ước tính sản lượng in trên nhựa và các vật liệu khác vào khoảng 20.000 tỷ đồng. Như vậy tổng doanh thu của ngành in Việt Nam năm 2021 ít nhất cũng ở mức trên 110.000 tỷ đồng, Tương đương khoảng 5 tỷ USD. Còn theo con số của Heidelberg Nhà cung cấp thiết bị in lớn cho thế giới thì doanh thu của ngành công nghiệp in vào cỡ 6,7 tỷ USD. Dù có như vậy thì quy mô của ngành in Việt Nam cũng chỉ bằng gần 2/3 của Thái Lan, nơi có doanh thu ngành in đạt tới 10,4 tỷ USD. Mức tiêu thụ giấy của Việt Nam đã đạt 56kg đầu người, bằng khoảng 80 % so với Thái Lan và gần mức trung bình của thế giới. Trung Quốc trên 100kg người, Mỹ và Nhật ở mức trên 200kg người. 

– Mặc dù đã có mức tăng trưởng cao trong nhiều năm trước đại dịch Covid, Việt Nam đã nằm trong top 4 Đông Nam Á, nhưng ngành công nghiệp in Việt Nam vẫn còn yếu ở một số lĩnh vực như: 

+ In kĩ thuật số kém phát triển, có khoảng cách quá xa so với thế giới. Khi tỷ trọng in kĩ thuật số chiếm tỷ trọng tới 15,7% trên tổng sản lượng gần 900 tỷ USD thì ở Việt Nam chưa đạt tới 1 %. Quy mô các cơ sở in kĩ thuật số ở Việt Nam còn quá nhỏ bé, sản phẩm ít đa dạng, phần lớn sử dụng máy in kĩ thuật số khổ nhỏ, máy in phun còn máy in kĩ thuật số công nghiệp dùng cho bao bì, nhãn mác còn rất ít, tập trung chủ yếu ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

+ In xuất khẩu của Việt Nam còn quá yếu, chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nếu nhìn vào con số in xuất khẩu của Thái Lan năm 2020 là trên 2 tỷ USD, Tức bằng 1/3 tổng sản lượng của ngành in Việt Nam, trong khi Việt Nam là một trong những nền kinh tế mở nhất ở châu Á và thế giới đủ thấy việc tận dụng thời cơ của chúng ta là rất kém. Đó cũng là mảnh đất màu mỡ để các doanh nghiệp nước ngoài đã và sẽ ồ ạt đầu tư vào Việt Nam và ngành in cũng sẽ như một số ngành kinh tế khác của Việt Nam sẽ có kim ngạch xuất khẩu cao nhưng không thuộc về các doanh nghiệp của Việt Nam. 

– Một hiện tượng đáng quan ngại khác đối với ngành in Việt Nam là việc thôn tính các doanh nghiệp in bao bì lớn của Việt Nam thông qua hình thức M&A của các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng mạnh mẽ hơn. Gần đây nhất là cuối năm 2020 tập đoàn SCG của Thái Lan cùng với đối tác là Rengo (Nhật Bản) đã thu tóm 94 % cổ phần của công ty CP bao bì biên Hòa (SAVI) với giá 2.070 tỷ đồng (cao hơn 70 % giá niêm yết), trước đó tập đoàn này cũng đã thâu tóm 80% cổ phần của công ty Batico có sản lượng mỗi năm gần 2.000 tỷ đồng. Hiện đang có một số công ty bao bì lớn của Việt Nam đang tìm các đối tác nước ngoài để chuyển nhượng tiếp. Cùng với hàng loạt các công ty có vốn đầu tư nước ngoài liên tục được thành lập tại các khu công nghiệp ở Bắc Ninh, Hải Phòng, Hà Nam, Thái Bình, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Đồng Nai, Long An, Bình Dương, Bình Phước và Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây thì trong tương lai không xa việc sản xuất bao bì, nhãn mác và in suất khẩu tại Việt Nam sẽ nghiêng hẳn về phía doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 

– Việc đầu tư, đổi mới trang thiết bị và công nghệ trong những năm qua, mặc dù có nhiều bất lợi về điều kiện sản xuất kinh doanh nhưng việc đầu tư cho phát triển của ngành in Việt Nam vẫn duy trì đều đặn. Thậm chí năm 2021, số lượng máy in nhập khẩu về Việt Nam vẫn tăng cao cả về số lượng và giá trị. Theo số liệu của phòng Quản lý in Cục xuất bản, In và Phát hành thì số lượng máy in công nghiệp như offset, Flexo, ông đồng là 994 chiếc, cao hơn năm trước 18 % với tổng trị giá là 3.178 tỷ đồng, tương đương gần 140 triệu USD, trong đó máy mới chiếm 65%, phần lớn là máy in từ 4 màu trở lên (80%), nhiều máy có giá trị từ 1 triệu đến gần 20 triệu USD/máy. Còn theo số liệu của các đơn vị cung cấp máy in đã qua sử dụng thì các nhà in vẫn tiếp tục đầu tư bổ sung hoặc mở rộng sản xuất nhưng phần lớn là những máy in và thiết bị với giá trị từ 2 tỷ đồng trở xuống, chủ yếu cung cấp cho các doanh nghiệp Việt Nam. Các loại máy in có giá trị lớn chủ yếu là đơn hàng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có các loại máy in kỹ thuật số công nghiệp. 

– Về tình hình nhân lực. Số lao động làm việc trong ngành in Việt Nam khoảng 70.000 người (con số thống kê được của Cục xuất bản, In và Phát hành năm 2021 là 58.800 người). Lực lượng lao động kể trên vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng. Đây cũng là một trong những khó khăn lớn nhất của ngành in Việt Nam hiện nay. Việc thu hút lao động vào các doanh nghiệp và học sinh, sinh viên vào các cơ sở đào tạo đều rất khó khăn. Chất lượng đào tạo chưa theo kịp nhu cầu đổi mới và phát triển của công nghệ, các doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến công tác đào tạo, tự đào tạo và các giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề. Trong khi đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại làm tốt công việc này. Hệ quả là sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng yếu, không đủ sức và sự tự tin để cạnh tranh và hội nhập quốc tế ngay tại thị trường nội địa và khu vực. Các

doanh nghiệp Thái Lan, Singapore, Malaixia ở khu vực ASEAN giải quyết vấn đề nhân lực rất tốt, kể cả lao động nhập khẩu và lao động tại chỗ. Không khắc phục được yếu điểm này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ mất dần thị trường trong nước, chưa nói đến vấn đề hội nhập và xâm nhập thị trường quốc tế. 

– Một điểm nhấn không thể không nhắc đến là ngành in Việt Nam đã kiên cường chống chọi với thiên tai, đại dịch và khủng hoảng kinh tế toàn cầu suốt mấy năm vừa qua, hạn chế đến mức thấp nhất có thể, dù mọi nguồn lực đã bị bào mòn đáng kể nhưng phần lớn các doanh nghiệp đang nỗ lực vượt qua khủng hoảng nhờ sự đoàn kết, hỗ trợ lẫn nhau, bằng biện pháp thực hiện 3 tại chỗ và hỗ trợ cho người lao động, bằng sự bứt phá trong thời gian sau đỉnh đại dịch và một phần có sự hỗ trợ bằng các giải pháp của chính phủ và các cấp chính quyền.

2. Hoạt động của Hiệp hội in Việt Nam giai đoạn 2016 – 2021

2.1. Tham gia góp ý xây dựng, điều chỉnh các văn bản pháp luật và quy hoạch phát triển ngành in 

Hiệp hội in Việt Nam đã kiên trì và tích cực đóng góp ý kiến để sửa đổi những quy định nỗi cộm gây khó khăn cho ngành in trong Nghị định 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 để ngày 28/2/2018 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 25/2018/NĐ-CP, trong đó đã sửa đổi trên 50% điều khoản. Đây là thành công lớn của Hiệp hội trong việc góp ý, hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến ngành in. Năm 2021, Hiệp hội in đã cử đại diện tham gia tổ công tác xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản năm 2012. 

– Hiệp hội in cũng kiên quyết bày tỏ ý kiến không đồng tình với một số quy định trong quyết định số 18/2019/QĐ-TTg ngày 19/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng không phù hợp với kiến nghị trước đây của Hiệp hội in Việt Nam đã được Bộ Thông tin và Truyền thông tiếp thu và đưa vào thông tư số 16/2015/TT-BTTTT ngày 17/6/2015 khi quy định chi tiết Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 30/11/2013 về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm. 

– Góp ý xây dựng Nghị định số 14/2022/NĐ-CP ngày 27/01/2022 sửa đổi một số điều của Nghị định số 119/2020/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản, nghị định bổ sung chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với các sản phẩm in không phải là xuất bản phẩm. 

– Tham gia Hội nghị đánh giá 15 năm thực hiện chỉ thị số 42-CT/TW ngày 25/8/2004 của Ban Bí thư về việc nâng cao chất lượng hoạt động công tác xuất bản (trong đó có ngành in). – Tham gia hội nghị trực tuyến chủ đề xây dựng định hướng và phát triển ngành in Việt Nam vào năm 2020. 

– Tham gia các cuộc hội thảo tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đánh giá tình hình 7 năm thực hiện Luật Xuất bản năm 2012 và có văn bản góp ý phục vụ tổng kết 10 năm thi hành Luật Xuất bản. 

– Tham gia các hội nghị do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức về việc chống in lậu và các cuộc họp giao ban hàng quý và hằng năm. 

2.2. Duy trì mối quan hệ thường xuyên với các cơ quan hữu quan và tổ chức để phản ánh nguyện vọng và bảo vệ lợi ích của hội viên:

– Phản ánh kịp thời nguyện vọng và những khó khăn của hội viên và các doanh nghiệp in với cơ quan quản lý ngành là bộ TTTT, Cục Xuất bản, In và Phát hành, VCCI và kiến nghị những giải pháp tháo gỡ. 

– Trong thời kỳ cao điểm của đại dịch Covid-19, Hiệp hội in đã tiến hành khảo sát nắm bắt tình hình, báo cáo về những thiệt hại và tác động của đại dịch Covid-19, đề suất các chính sách hỗ trợ của nhà nước như giảm thuế GTGT, thuế TNDN, giảm, giãn nộp các loại thuế, phí, hỗ trợ lãi vay ngân hàng v.v…, tạm ngưng các đợt kiểm tra liên ngành để các doanh nghiệp tập trung đối phó, chống dịch. 

– Trước tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu, khủng hoảng địa chính trị và ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, các nhà cung cấp vật tư của ngành in đã cung cấp các thông tin đầy đủ và Hiệp hội in Việt Nam đã có thông báo về tình hình biến động giá giấy, khả năng đứt, gãy cục bộ nguồn cung để các doanh nghiệp có biện pháp tương ứng, trong đó có việc dự trữ, điều chỉnh lượng tồn kho và thương thảo hợp đồng với các đối tác để hạn chế thấp nhất sự thiệt hại. 

– Hiệp hội in đã nhiều lần gửi văn bản cho Nhà Xuất bản Giáo dục Việt Nam đề nghị điều chỉnh giá công in sách giáo dục liên quan đến việc thay đổi của sách và các yếu tố làm tăng chi phí sản xuất trong những năm gần đây và đã nhận được sự hợp tác của Nhà xuất bản. Mặt khác, một số nhà in đã có giải pháp đầu tư, chuyển đổi khổ máy in phù hợp, trong đó có một số máy in cuộn để in sách giáo khoa khổ mới rất có hiệu quả. 

– Việc tổ chức hiệp thương trong việc đấu thầu in sách giáo dục đã được tiến hành hằng năm, giảm thiểu thiệt hại do chênh lệch so với giá trần. Phần lớn các nhà thầu cũng đã có ý thức hơn trong việc san sẻ công việc cho những nhà in gặp khó khăn về công việc trong địa bàn không thuận lợi. 

2.3. Công tác thông tin: 

– Do tình hình dịch bệnh kéo dài trong phần lớn thời gian vừa qua nên việc cung cấp các thông tin chủ yếu dùng hình thức trực tuyến, trong đó có khá nhiều cuộc hội thảo có chủ đề thích hợp đã được tổ chức, đặc biệt là khu vực phía nam. Hiệp hội In Việt Nam, Hội In Thành phố Hồ Chí Minh, Hiệp hội Bao bì Việt Nam đã phối hợp cùng Print Media tổ chức thành công hội thảo trực tuyến với đề tài thương mại điện tử trong ngành in sau đó theo đề nghị của một số doanh nghiệp, sàn thương mại điện tử ngành in đã được triển khai hoạt động. Nhân dịp Hội chợ triển lãm Print & Pack 2021 với hình thức trực tuyến, Hiệp hội In Việt Nam đã bảo trợ để Công ty Cổ phần phát triển công nghệ Tech Pro – một hội viên mới của Hiệp hội tổ chức thành công WEBINAR chủ đề chuyển đổi số công nghệ in bao bì và đóng gói. Những năm trước đại dịch, Hiệp hội In Việt Nam vẫn luôn bảo trợ và tham dự các cuộc triển lãm trong và ngoài nước, phối hợp với Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, Công ty Chan Chao và Hiệp hội In các nước trong khu vực. 

– Các thông tin cần thiết đều được Hiệp hội thông báo trên các Viber group và Zalo group của Hiệp hội, của Ban chấp hành và của Hội In Thành phố Hồ Chí Minh và được đông đảo hội viên và các UV BCH tham gia, truy cập và trao đổi thông tin. Trong khi đó, trang Web của Hiệp hôi còn chưa phong phú, thiếu cập nhập thông tin nên lượng truy cập thấp.

– Tạp chí In và Truyền thông của Hiệp hội, sau khi tổng biên tập xin nghỉ, Hiệp hội chưa tìm được người thay thế nên việc xuất bản định kỳ gặp khó khăn, số gần đây nhất được phát hành vào tháng 1/2021. Mặt khác do tình hình dịch bệnh và các khó khăn trong kinh doanh nên việc thu hút quảng cáo rất khó, trong khi chi phí in ấn và phát hành lại khá tốn kém phải bù đắp bằng kinh phí của Hiệp hội, vì vậy việc chuyển đổi tạp chí sang hình thức tạp chí điện tử là cần thiết. Hiệp hội In đã báo cáo và xin ý kiến của Bộ TTTT về việc này. 

2.4. Công tác tổ chức và phát triển hội viên: 

Hội viên: Số lượng hội viên đăng ký cho đến nay là 225 nhưng một số hội viên không tham gia hoạt động và đóng hội phí đầy đủ nên đã bị gạch tên, hiện còn gần 200 hội viên, trong đó số hội viên khu vực Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 2/3, đa số là những công ty in xuất bản phẩm và các sản phẩm tổng hợp. Các nhà in bao bì và kĩ thuật số tham gia chưa nhiều. Một số khu vực có số lượng hội viên chưa tương ứng với số lượng nhà in đang hoạt động như khu vực miền Đông và Tây Nam Bộ, khu vực Nam miền Trung và Tây Nguyên. Gần đây mỗi năm Hiệp hội có phát triển thêm trên dưới 10 hội viên mới nhưng tổng số hội viên còn quá thấp so với tổng số doanh nghiệp in của cả nước hiện nay. Việc đóng hội phí cũng chưa đầy đủ. Sự giao lưu, hợp tác giữa các hội viên, giữa các vùng miền còn chưa thường xuyên. 

Ban chấp hành: Tổng số ủy viên Ban chấp hành hiện nay là 39 người, 1/4 trong số đó đã tham gia từ nhiệm kỳ đầu tiên, sắp tới tỷ trọng đó còn giảm nữa do tuổi tác và điều kiện công tác không còn thích hợp. Trong nhiệm kỳ vừa qua, số lượng ủy viên Ban chấp hành nghỉ hoặc chuyển công tác cũng khá đông và đã được thay thế, bổ sung kịp thời. Sự hoạt động của các ủy viên Ban chấp hành còn chưa đồng đều nên chất lượng điều hành của Ban chấp hành còn chưa tốt, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động chung của Hiệp hội. 

Các hội và chi hội: trong nhiệm kỳ vừa qua có thêm Hội In Tỉnh Bình Dương được thành lập và gần đây là Chi hội Nam miền Trung và Tây Nguyên. Đây là hai khu vực có số lượng doanh nghiệp in khá lớn nhưng cũng có những đặc thù riêng. Riêng khu vực Bình Dương có gần 300 doanh nghiệp in lớn nhưng phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng việc phát triển hội viên lại rất khó khăn do quy định của Bộ Nội vụ về tư cách hội viên có vốn đầu tư nước ngoài. Một số khu vực khác cũng có khó khăn tương tự. 

2.5. Công tác đối ngoại: 

Hoạt động đối ngoại đã diễn ra khá sôi động trước đại dịch. Nhiều đoàn doanh nghiệp in Việt Nam đã tham dự các Hội nghị, hội thảo và triển lãm quốc tế, đồng thời Hiệp hội in cũng tiếp đón khá nhiều đoàn nước ngoàisang giao lưu, khảo sát và dự hội thảo tại Việt Nam, trong đó có các đoàn từ các nước trong khu vực như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Lào. 

Nhưng từ năm 2020 đến cuối năm 2021 tất cả các cuộc hội thảo và triển lãm quốc tế đều bị hoãn hoặc chuyển sang hình thức trực tuyến, trong đó có hội chợ triển lãm DRUPA2020, China Print lớn nhất thế giới và nhiều cuộc triển lãm trong nước và quốc tế khác. Từ các cuộc hội thảo và tiếp xúc với các đoàn nước ngoài cho thấy sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường in ấn của Việt Nam, một thị trường tiềm năng nhất trong khu vực. 

2.6. Các hoạt động khác:

– Hiệp hội in Việt Nam, các Hội và Chi hội in, các hội viên luôn quan tâm và làm tốt công tác xã hội, từ thiện quan tâm đến các vị lão thành trong ngành in, nhớ về cội nguồn. – Trong đợt mưa lũ năm 2020 gây thiệt hại nặng nề cho các tỉnh Bắc miền Trung như Hà Tĩnh, Quảng Bình hàng trăm triệu đồng đã được các hội viên, Hội và Chi hội quyên góp để giúp các nhà in bị thiệt hại giảm bớt khó khăn. 

– Trong thời kỳ cao điểm của đại dịch Covid nhiều cá nhân và tập thể mặc dù cũng gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn có những hành động thiết thực như phát gạo, nấu cơm từ thiện, ủng hộ các trang bị y tế đến các hộ nghèo, các cá nhân và gia đình gặp khó khăn. 

– Thăm hỏi các vị lãnh đạo lão thành ngành in. Hiệp hội in, Hội in Hà Nội và một số nhà in phía Bắc đã tiếp đón chu đáo các lãnh đạo tiền bối của khu vực miền Tây ra thăm miền Bắc, để lại nhiều tình cảm và ấn tượng sâu sắc. 

– Vào dịp lễ hội đầu năm thường xuyên có các đoàn đến dâng hương tại Đình Liễu Tràng, Hải Dương, nơi Hiệp hội in Việt Nam đã xây dựng tấm bia tưởng niệm ông tổ nghề in Việt Nam Lương Nhữ Hộc. 

– Hằng năm, Hiệp hội In Việt Nam đều tặng giấy khen cho các tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp đối với ngành in theo đề nghị của các Hội, Chi hội in.

II. Phương hướng hoạt động của Hiệp hội in Việt Nam nhiệm kỳ IV (2022 – 2027)

1. Kiện toàn bộ máy Ban chấp hành để hoạt động đồng đều, có hiệu quả hơn, đoàn kết và phát huy sức mạnh tập thể của toàn thể Ban chấp hành và các hội viên.

2. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý ngành và các cơ quan hữu quan trong việc xây dựng thể chế, cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật có liên quan đến ngành in. Tham gia ý kiến về đề cương tổng kết 10 năm thi hành Luật Xuất bản năm 2012. Tích cực tham gia trong quá trình soạn thảo dự án Luật Xuất bản mới theo tinh thần đổi mới triệt để, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để ngành công nghiệp in Việt Nam phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và hội nhập quốc tế.

3. Khuyến khích và phổ biến kinh nghiệm đến các doanh nghiệp in về thương mại điện tử để ngành in cùng hòa nhập với xu thế chung của thế giới và nền kinh tế số đang được nhà nước quan tâm. Hỗ trợ để sàn thương mại điện tử ngành in Việt Nam hoạt động hiệu quả. Tổ chức các cuộc trao đổi kinh nghiệm và Hội thảo về chuyển đổi số của ngành in.

4. Xúc tiến việc thành lập Trung tâm tư vấn ngành in.

5. Khảo sát nhu cầu và các điều kiện cần thiết trong việc hình thành khu công nghiệp in tập trung ở các trung tâm in lớn.

6. Khuyến khích tăng cường và đổi mới công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành in, trong đó có việc đầu tư đúng mức cho công tác đào tạo, đào tạo tại chỗ, liên kết đào tạo.

7. Kiên quyết thực hiện dự án Giải thưởng chất lượng ngành in mà các nhiệm kỳ trước chưa làm được. Tham gia Hội đồng bảo trợ Giải thưởng bao bì Việt Nam 2022 do Hiệp hội In Bao bì Việt Nam lần đầu tổ chức

8. Đẩy mạnh công tác phát triển hội viên, đặc biệt ở các khu vực tiềm năng, ngành in đang phát triển. Số lượng Hội viên của Hiệp hội In Việt Nam mỗi năm đều tăng nhưng chưa tương xứng với quy mô của toàn ngành, các hội viên trong lĩnh vực in nhãn hàng, bao bì và in kỹ thuật số còn chưa tương xứng với sự phát triển và tăng trưởng trong các lĩnh vực này. Hiệp hội cần giao cho các ủy viên BCH, ủy viên Ban thường vụ hoạt động ở các vùng miền cần chú trọng hơn công tác tuyên truyền, quảng bá và vận động để phát triển hội viên thuộc các thành phần kinh tế và lĩnh vực hoạt động khác nhau. Phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ đưa số hội viên lên con số 250 – 300.

9. Tăng cường các hoạt động giao lưu giữa các vùng miền, khuyến khích việc hợp tác, liên kết giữa các hội viên, doanh nghiệp để tận dụng thế mạnh của nhau và giảm chi phí đầu tư.

10. Phối hợp với Hiệp hội Bao bì Việt Nam, Hội Xuất bản Việt Nam, Tổng Công ty Giấy Việt Nam, Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam.v.v… trong các lĩnh vực có liên quan.

11. Tổ chức các đoàn tham gia hội chợ triển lãm quốc tế ngành in trong và ngoài nước, tham gia các cuộc hội thảo quốc tế, đăng cai một cuộc hội thảo quốc tế tại Việt Nam với chủ đề thích hợp, trước mắt là Print Pack vào tháng 9/2022.

12. Tăng cường công tác thông tin đến hội viên, chuyển đổi hình thức tạp chí của Hiệp hội sang tạp chí kỹ thuật số, kiện toàn nhân sự của tạp chí và công tác thông tin của Hiệp hội.

13. Tiếp tục hợp tác với nhà Xuất bản Giáo dục trong việc tổ chức đấu thầu in sách giáo dục và điều chỉnh đơn giá, công in phù hợp với mặt bằng chi phí mới, đặc biệt là các chi phí liên quan đến vận chuyển, giá cả nguyên vật liệu và việc điều chỉnh mức lương tối thiểu.

14. Phát động phong trào thi đua và các hình thức hoạt động nhân kỷ niệm 70 năm ngày truyền thống của ngành Xuất bản, In và Phát hành. Lựa chọn và đề xuất các tập thể và cá nhân xuất sắc đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông tặng băng khen. Xem xét việc đề xuất trao tặng Kỷ niệm chương vì sự ngiệp In Việt Nam nhân dịp ngày truyền thống cho các tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp cho sự phát triển của ngành in.

15. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Thông tin và Truyền thông đối với ngành in với các công việc trọng tâm là: 

– Thể chế 

– Thị trường 

– Nguồn nhân lực 

– Chuyển đổi số 

Để thực hiện đầy đủ chương trình công tác kể trên chúng ta rất cần một tinh thần đoàn kết, đổi mới, sáng tạo, hợp tác, phát huy nội lực và sẵn sàng hội nhập. 

THÔNG TIN BÀI THAM LUẬN: Bài Tham Luận

100 bình luận

Bình luận