Prima.vn - Cổng thông tin điện tử ngành in và bao bì Việt Nam
Trang chủ » ĐO TRAPPING (2)

Chia sẻ

CHẤT LƯỢNG / IN / IN OFFSET / QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG / TIÊU CHUẨN TRONG NGÀNH IN

ĐO TRAPPING (2)

ĐO TRAPPING (2)

Trong quá trình in mực ướt chồng ướt, các lớp mực sau không bao giờ đạt được độ dày so với lớp mực được in trực tiếp trên giấy. Điều này thu hẹp gamut màu và có thể gây ra các vấn đề về hình ảnh. Prima.vn xin giới thiệu bạn đọc phần thứ hai của việc đánh giá trapping trong in ấn.

Như đã đề cập ở phần trước, có ba công thức hoàn toàn khác nhau để tính toán các phép đo mật độ và tỷ lệ chồng màu (trapping). Mỗi một phép đo dẫn đến kết quả khác biệt đáng kể so với các công thức khác. Câu hỏi đặt ra là nên dùng công thức nào và có những vấn đề nào xảy ra khi in liên quan đến Trapping? Có thể tính trapping bằng cách định lượng mực hay không? Đó chính là nội dung của phần này.

Vấn đề đo mật độ quang học.

Trong sản xuất in công nghiệp, không có cách trực tiếp để định lượng độ dày lớp mực in trên giấy. Vì vậy, thước đo trung gian được sử dụng là mật độ quang học. Đáng tiếc, đây không phải là một phép đo hoàn toàn chính xác. Vì điều kiện cơ bản không chính xác: Máy đo sẽ xem phần tử in là một lớp mực phẳng có độ dày đồng đều nhau.

Bề mặt giấy đương nhiên không bằng phẳng hoàn toàn, do vậy lớp mực bám lên giấy cũng không đồng đều và có độ mấp mô nhất định. Hơn nữa, giấy có khả năng thấm hút, cho nên sẽ ảnh hưởng đến lớp mực bám lên nó. Và kết quả thực tế, khi phóng to các điểm trame chúng ta thấy phần tử in không đồng nhất (bị rỗ), hình 1

                                  

Hình 1: Cách mà máy đo mật độ nhận diện (trái) và thực tế trên tờ in.

Mối tương quan giữa mật độ và độ dày lớp mực.

Khi in trên bề mặt giấy, và tăng lượng mực lên chúng ta được kết quả như đồ thị 1.

Mô tả trong đồ thị, tương quan giữa độ dày lớp mực và mật độ quang học. Khi tăng độ dày lớp mực 0- 1 µm, mật độ tăng lên gần như tuyến tính với độ dày lớp mực. Sau đó, khi vượt qua độ dày 1 µm, sự gia tăng suy yếu dần, đồ thị chuyển qua đường thẳng song song với trục hoành, và mật độ đạt giá trị bão hòa dù tăng độ dày lớp mực rất cao.

Đồ thị 1: mối tương quan giữa độ dày lớp mực và mật độ quang học.

Ở đây, chúng ta thấy sự không hoàn hảo thứ hai trong hệ thống: khi hai lớp mực chồng lên nhau, thì lớp mực bên dưới sẽ ảnh hưởng đến việc xác định chính xác lớp mực ở trên. Và điều này cũng đúng ngay cả đối với hai lớp mực giống nhau. Chúng ta phải đối mặt với thực tế là đo hai lớp mực khác nhau ở vị trí chồng lên nhau, cả lớp bên dưới và lớp bên trên đều không thể xác định chính xác bằng mật độ quang học, chẳng hạn với màu Magenta trên màu Cyan.

Phép đo nào tốt hơn?

Nếu mật độ quang học có quá nhiều điểm không chính xác, hãy thực hiện một kỹ thuật khác, sử dụng máy đo màu, nó có thể hoạt động tốt hơn?

Khi sử dụng máy đo màu, kết quả có vẻ thuyết phục. Bởi vì Máy đo màu cung cấp chính xác kết quả giống như mắt ghi nhận. Nhưng vấn đề phát sinh là, máy đo màu quang phổ (và mắt của chúng ta) chịu ảnh hưởng mực in và màu của vật liệu in. Và chất liệu, thường là giấy, có sự ảnh hưởng rất lớn đến mức không thể bỏ qua. Điều này sẽ ảnh hưởng đến trapping khi sử dụng máy đo màu.

So sánh Preucil, Ritz và Brunner

Như vậy chúng ta hoàn toàn có thể nghi ngờ về độ chính xác của các phép đo quang học. Chúng ta cần một sự so sánh có kiểm soát. Như phần trước, chúng ta có thể so sánh bằng cách tính trapping thông qua cân lượng mực thực tế. Dĩ nhiên, chỉ có thể thực hiện – trong phòng thí nghiệm.

Sử dụng  máy in phòng thí nghiệm (IGT, Prüfbau, v.v.), một tờ giấy có diện tích 40 x 200 mm được in từ trục in. Các trục được cân chính xác trước và sau khi in. Vì vậy, chúng ta có thể đo chính xác, lượng mực đã được truyền đi.  In lần lượt từng màu đơn CMY và chồng các màu mực C+M; C+Y và M+Y.  Đo giá trị mật độ ở nhiều điểm của mỗi bản in.

Hình 1: Máy test IGT

Để có một loạt bài kiểm tra hoàn chỉnh. Cần phải thực hiện trong phòng thí nghiệm với độ dày màng mực từ 0,2 đến 1,3 g/m². Trong mỗi bước, với mỗi lần thay đổi lượng mực 0.2 g/m2, thực hiện một bộ (chồng màu) hoàn chỉnh, sau đó in lớp mực thứ hai theo trọng lượng đã được phân loại. Điều này cho chúng ta một cái nhìn đầy đủ và chúng ta có thể đo bằng máy đo mật độ và đo màu. Bây giờ chúng ta có thể so sánh ba mô hình tính toán cho trapping mực. (đồ thị 2)

Đồ thị 2: so sánh ba mô hình tính giá trị trapping cho thấy sự khác biệt lớn như thế nào

Màu Cyan và Yellow được in trên giấy tráng phủ. Đồ thị biểu diễn lượng mực màu Yellow tính bằng g/m² trên trục x. Trên trục y, là % giá trị trapping. Các vùng tông nguyên của Yellow trên tờ in có độ dày 1,08 g/m². Do đó, cùng một độ dày lớp mực màu Cyan sẽ tương ứng với 100% trapping.

Theo công thức của Preucil, tính toán cho giá trị trọng lượng tăng dần 15% mỗi lần và kết thúc bằng 100% trapping. Các cặp đôi khác (C+M; M+Y) cũng cho thấy các giai đoạn có kết quả thấp hơn và kết thúc dưới 100%.

Ứng dụng thực tế.

Trapping thường là vấn đề ít được quan tâm trong xường in. Thông thường, trong quá trình in bốn màu, việc đầu tiên thợ in kiểm soát là mật độ quang học vùng tông nguyên (SID) và gia tăng tầng thứ. Nếu vẫn không hài lòng với màu in ra, nhưng chúng còn nằm trong tiêu chuẩn và vẫn có quá nhiều khác biệt trong vùng hình ảnh in. Thì đây là lúc cần quan tâm đến trapping.

Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng, khi trapping dao động, nó sẽ hiển thị từ 10% trở lên. Vì vậy, một phép đo chính xác không thực sự cần thiết. Chúng ta cũng thấy rằng mỗi công thức trong số ba công thức đều hữu ích theo một cách nào đó. Tại sao phải sử dụng một công thức phức tạp, với sự khác biệt không đáng kể, thay vì mô hình đơn giản của Preucil. Với việc kiểm tra tại máy in, chỉ nên dùng Preucil.

Công thức Ritz và Brunner dành cho các ứng dụng rất đặc biệt. Preucil sử dụng mật độ quang học để cho độ dày lớp mực. Ritz và Brunner sử dụng các giá trị tone, đó là phần trăm diện tích che phủ mực. Điều này rất khác biệt, bởi vì giá trị tone đi cùng với sự hấp thụ ánh sáng, trong khi mật độ quang học là một hàm logarit của ánh sáng phản xạ.

Công thức Preucil, Ritz và Brunner, chúng tôi đã đề cập ở phần 1.

95 bình luận

Bình luận